fbpx
Air Operations Logistics

Cước vận tải hàng không

Khi chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không, chúng ta phải trả cho người vận chuyển một khoản tiền gọi là cước vận tải hàng không. Cước vận tải hàng không được đưa ra dựa trên những cơ sở nhất định và bao gồm nhiều loại cước khác nhau.

 

van-tai-duong-hang-khong2

 

1. Khái niệm

Cước vận tải hàng không là số tiền phải trả cho việc chuyên chở một lô hàng và các dịch vụ có liên quan đến việc vận chuyển bằng phương tiện máy bay. Mức cước hay giá cước (rate) là số tiền mà người vận chuyển thu trên một khối lượng đơn vị hàng hoá vận chuyển.

 

Mức cước áp dụng là mức ghi trong biểu cước hàng hoá có hiệu lực vào ngày phát hành vận đơn.

 

2. Cơ sở tính cước

Hàng hoá chuyên chở có thể phải chịu cước theo trọng lượng nhỏ và nặng, theo thể tích hay dung tích chiếm chỗ trên máy bay đối với hàng hoá nhẹ và cồnh kềnh. Đối với những loại hàng hóa có giá trị cao thì giá cước sẽ được tính dựa theo trị giá của hàng trên một đơn vị thể tích hay trọng lượng.

 

Tuy nhiên cước hàng hoá không được nhỏ hơn cước tối thiểu.

 

Cước phí trong vận tải hàng không được quy định trong các biểu cước thống nhất. Hiệp hội vận tải hàng không Quốc tế – IATA (International Air Transport Association) đã có quy định về quy tắc, thể lệ tính cước và cho ấn hành trong biểu cước hàng không, viết tắt là TACT (The Air Cargo Tariff).

 

iata

 

3. Một số loại cước hàng không

Cước hàng bách hoá (GCR – General cargo rate)

Là cước áp dụng cho hàng bách hoá thông thường vận chuyển giữa hai sân bay mà không áp dụng bất cứ loại cước đặc biệt nào.Cước này cao thấp phụ thuộc vào trọng lượng của hàng hóa. Cước này được giảm nếu khối lượng hàng hoá gửi tăng lên. Cước hàng bách hoá được chia làm hai loại:

  • Ðối với hàng bách hoá từ 45 kg trở xuóng thì áp dụng cước hàng bách hoá thông thường (GCR-N: normal general cargo rate)
  • Ðối với những lô hàng từ 45 kg trở lên thì áp dụng cước bách hoá theo số lượng (GCR-Q: quanlity general cargo rate).

Thông thường, cước hàng bách hoá được chia thành các mức khác nhau: từ 45 kg trở xuống; 45 kg đến 100 kg; 100 kg đến 250 kg; 250 kg dến 500 kg; 500 kg đến 1000 kg; 1000 đến 2000 kg…

 

Cước hàng bách hoá được coi là cước cơ bản, dùng làm cơ sở để tính cước cho những mặt hàng không có cước riêng.

 

Cước tối thiểu (M – Minimum rate)

Là giá cước thấp nhất mà một hãng hàng không có thể vận chuyển một lô hàng, có tính đến các chi phí cố định mà hãng hàng không phải chi ra để vận chuyển. Trong thực tế, cước tính cho một lô hàng thương bằng hay lớn hơn mức cước tối thiểu.

 

Là loại cước áp dụng cho những hàng hóa đặc biệt, được vận chuyển trên những đường bay nhất định. Mục đích chính của cước đặc biệt là để chào cho người gửi hàng giá cạnh tranh, nhằm tiết kiệm cho người gửi hàng bằng đường hàng không và cho phép sử dụng tối ưu khả năng chuyên chở của hãng hàng không.

 

Cước phân loại hàng (class rate)

Cước này được áp dụng khi hàng hóa đó không có cước riêng, nó thường được tính theo phần trăm tăng hoặc giảm trên cước hàng hoá bách hoá, áp dụng đối với những loại hàng hoá nhất định trong những khu vực nhất định. Các mặt hàng thường được áp dụng loại cước này là: Ðộng vật sống (150% GCR), hàng giá trị cao, vàng bạc, đá quý( 200% GCR), sách báo, tạp chí, sách cho người mù( 50% GCR), hài cốt…

 

Cước hàng gửi nhanh (Priority rate)

Cước này được gọi là cước ưu tiên, áp dụng cho những lô hàng được yêu cầu gửi gấp trong vòng 3 tiếng kể từ khi giao hàng cho người chuyên chở.

 

Cước gửi nhanh thường bằng 130% đến 140% cước hàng bách hoá thông thường.

 

Cước container (Container rate)

Nếu hàng được đóng trong container thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay thì hãng hàng không sẽ áp dụng một giá cước thấp hơn.

VILAS